Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Thạch cao chịu lực thạch cao hút khí độc ở Vietbuild 2016

Giải pháp dành cho nhà ở dân dụng, văn phòng
Quay trở lại vấn đề thạch cao, các bạn nghĩ là thạch cao trong xây dựng thì quá thường rồi, nhưng thực sự thì bạn đã chịu áp dụng công nghệ này tại nhà mình chưa, hay vẫn dùng gạch để xây ngăn vách phòng, thi công vừa lâu, vừa dơ, trong khi đó, nếu dùng giải pháp thạch cao thì bạn có thể chia phòng, gắn cửa, cửa sổ, trang trí chỉ trong một buổi sáng là xong!
Ví dụ, với hệ tường tiêu chuẩn DW1, đội thi công có thể hoàn thành việc ngăn tường phòng, dựng vách cho bạn chỉ trong vài tiếng mà thôi, tường chống cháy, chịu lực được ở mức trung bình, nghĩa là bạn có thể treo tivi, treo khung tranh ảnh, treo mắc áo quần thoải mái (đừng gắn xà đơn xà kép hoặc tạ vào là được). Tường có cách nhiệt luôn, xài máy lạnh thoải mái.

Vách tường hút được khí độc formaldehyde (HCHO)

Khí formaldehyde (HCHO) khá độc hại, khí này sinh từ gỗ, thảm trải sản, các loại màn treo và vải vóc hoặc từ các hoạt động hàng ngày của chúng ta như nấu nướng, giặt ủi, vận hành các thiết bị trong nhà. Hôm nay mình được chứng kiến thử nghiệm là bỏ 4-5 tấm Gyproc Activ'Air vào trong hộp kín, thì chỉ số khí formaldehyde giảm xuống có thể trông thấy trong vài phút!

Theo tập đoàn Saint-Gobain, nhà sản xuất ra tấm thạch cao này, là nó có khả năng chuyển đổi formaldehyde thành khí trơ vô hại, hiệu suất chuyển đổi đến 70%. Như vậy nếu bạn ốp trần và dùng vật liệu này ngăn vách tường, thì căn phòng bạn ở sẽ giảm đáng kể loại khí có hại này. Thời gian sử dụng lên đến 50 năm

Thạch cao chịu được lực, có thể dùng làm vách leo núi nhân tạo
Với các tấm thạch cao ngăn vách thông thường, bạn có thể treo tivi, móc áo, nhưng nếu bạn cần khả năng chịu lực rất cao, thì có thể ghé gian hàng Vĩnh Tường - sảnh A1 để xem tấm tấm thạch cao siêu cứng chắc Gyproc, phải nói là mình rất rất ấn tượng.
Ưu điểm của tấm siêu cứng Gyproc là:
- Cứng chắc như tường gạch.
- Cách âm – cách nhiệt tốt hơn tường thạch cao tiêu chuẩn.
- Dễ dàng lắp đặt vật treo với vít thông thường, không cần khoan chuyên dụng.
- Khả năng chịu tải ấn tượng với 15 kg tại 1 điểm treo.
- Ứng dụng cho tường và trần.


Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

Thạch cao làm phấn


LÀM PHẤN MÀU

Thành phần nguyên liệu:

1 tách thạch cao
1/2 tách nước lạnh
bột màu keo
khuôn

Cách làm:


  1. Trộn tất cả nguyên liệu trên lại với nhau, hãy nhớ rằng hàm lượng bột màu sử dụng có liên quan đến việc tạo ra màu sắc đậm hay nhạt cho phấn.
  2. Cho hỗn hợp vào khuôn định hình.
  3. Để hỗn hợp khô lại.

Hướng dẫn:


  1. Lót khuôn bằng giấy phủ sáp giúp dễ lấy phấn ra khỏi khuôn hơn.
  2. Phấn chỉ được sử dụng tốt nhất sau khi khô ráo và tách khỏi khuôn.
  3. Có thể dùng phẩm nhuộm màu acrylic thay cho bột màu keo nhưng có thể độc đối với sức khỏe.

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016

Bí quyết làm đẹp của ngườ việt nam và trung quốc cổ

Thạch cao làm đẹp
Không phải ngày nay nhu cầu làm đẹp mới trở nên phổ biến mà ngay từ thời xa xưa trên khắp thế giới việc làm đẹp là điều không thể thiếu đối với mỗi người phụ nữ.

Việt Nam 
Các cung tần, mỹ nữ trong triều đình Huế xưa thường sử dụng phấn nụ để làm đẹp. Để chế biến phấn nụ phải trải qua một giai đoạn hết sức công phu. Nước phải hứng là nước mưa, nhưng phải là nước của trận mưa đầu tiên. Sau khi hứng được nước, người làm phấn phải chưng thật trong và sạch, rồi cho vào một bể lớn để tránh nắng mưa. Nguyên liệu chính của phấn nụ là nhũ thạch cao, nhưng phải là loại thạch cao truyền thống hảo hạng trắng, mịn, không có tạp chất, được đặt từ Trung Quốc. Phấn nụ được chế tác từ thạch cao và 10 vị thuốc bắc. Người duy nhất có thể pha chế ra loại phấn này hiện nay chỉ có bà Trần Thị Phương là cháu ngoại của một thị nữ xưa kia phục vụ trong hậu cung của triều đình Huế. Thời đó, bà là người thị nữ duy nhất được tin tưởng giao trọng trách nắm giữ công thức pha chế và trực tiếp sản xuất phấn nụ để làm đẹp cho các phi tần.

Trung Quốc 
Võ Tắc Thiên: Vị hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc đã sử dụng bài thuốc chế từ cây ích mẫu để làm đẹp. Bài thuốc này có tên là Võ Tắc Thiên Mỹ dung.

Vào ngày 5/5 âm lịch, nhổ cả cây ích mẫu, rửa sạch đất cát, đem phơi khô. Đốt để lấy tro theo cách dùng nước tưới lên một khoảng đất sạch, đặt lò rửa ở chỗ đất ẩm đó, cho cả cây ích mẫu vào lò đốt cháy cho thành tro, đem sàng thật kỹ để lấy tro mịn. Tưới nước sạch vào tro rồi viên thành từng viên to bằng quả trứng gà. Tiếp tục phơi nắng cho khô. Đào một cái bếp đất, bốn mặt đều có bốn lỗ nhỏ, đảm bảo bếp nguyên khối đất. Bỏ các cục tro ích mẫu vào giữa bếp lò, dùng lửa thật nhỏ để đốt sao cho cục tro không bị cháy thành màu vàng đen mà chỉ cháy thành màu trắng mịn. Cho các cục tro màu trắng mịn này vào cối gốm, dùng chày bằng thủy tinh để giã nhỏ (người xưa dùng chày bằng ngọc hoặc bằng lộc giác sương để giã). Lấy vải lụa bọc lại rồi giã tiếp sao cho lớp bột thuốc cuối cùng thật mịn, đựng vào lọ sạch, giữ thật kín hơi. Khi cần dùng, lấy một ít bột tro hòa với nước sạch để rửa tay, rửa mặt, giúp cho da dẻ được trắng mịn, mặt sẽ sáng như ngọc, làm tan những nốt đen hoặc vàng trên da. Nếu muốn da toàn thân có màu trắng mịn, đẹp, có thể pha bột vào nước tắm và xoa đi xoa lại trên da nhiều lần lúc tắm (theo sách Ngoại Đài Bí Yếu của Vương Đảo đời Đường).

Thạch cao làm thuốc đông y

Thạch cao làm thuốc
Thạch cao là chất vô cơ (calci sunfat ngậm nước), ngoài ra, có thể lẫn đất sét, cát, các hợp chất sunfua, Fe và Mg. Để làm thuốc, dùng loại thạch cao mềm, còn loại khô cứng (bột thạch cao nung nóng) thường dùng trong ngoại khoa chấn thương để băng bó. Thạch cao là vị thuốc dùng nhiều trong đông y, vị ngọt, cay, tính rất hàn; vào các kinh phế, vị và tam tiêu
Thanh nhiệt, giáng hỏa:
Bài 1: thạch cao sống 24g, tri mẫu 12g, cam thảo 8g, ngạnh mễ 8g. Sắc uống. Công dụng: thanh nhiệt sinh tân. Trị dương minh nhiệt thịnh, đổ mồ hôi nhiều, phiền khát (biểu hàn lý nhiệt).
Bài 2: thạch cao sống 150g, kim ngân hoa 16g, liên kiều 16g, bản lam căn 24g, tri mẫu 20g, cam thảo 4g, bạc hà 4g. Sắc uống. Trị viêm màng não B thời kỳ đầu, phát sốt, buồn ngủ hoặc háo khát.
Mát phổi, dịu hen:
Bài 1: thạch cao sống 20g, ma hoàng 6g, hạnh nhân 4g, cam thảo 2g, kim ngân hoa 6g, bản lam căn 10g, Sắc uống. Đơn thuốc này thường dùng cho trẻ 1 - 3 tuổi; trị viêm phổi thời kỳ đầu và giữa, suyễn, mình sốt, có mồ hôi hoặc không có mồ hôi, miệng khát, khô háo bứt rứt, lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng khô, mạch nhanh và mạnh.
Bài 2: thạch cao sống 12g, trúc diệp 4g, mạch đông 12g, bán hạ 6g, cam thảo chích 4g, ngạnh mễ 12g, sa sâm 12g, hoàng cầm 8g, tỳ bà diệp 8g. Sắc uống. Trị viêm phổi thời kỳ cuối và giữa, hơi sốt hoặc sốt nhẹ, suyễn không rõ, ít mồ hôi hoặc hơi có mồ hôi, lưỡi đỏ, ít rêu hoặc rêu vàng, mạch hư.
Mát dạ, tiêu khát: thạch cao 20g, tri mẫu 6g, ngưu tất 6g, thục địa 20g, mạch đông 8g. Sắc uống. Thanh vị nhiệt, tả vị hỏa, bổ thận tư âm. Trị âm hư, dạ dày bốc hỏa, đau đầu, nhức răng, khát, bứt rứt, mất máu.
Thanh nhiệt, tiêu ban: thạch cao sống 32g, tri mẫu 16g, cam thảo 8g, canh mễ 8g, tê giác 4g, huyền sâm 16g. Sắc uống. Công dụng: thanh nhiệt lương huyết, tư âm giải độc. Trị ôn bệnh phát ban do vị hỏa vượng, huyết nhiệt thịnh hoặc mắc phải thời khí kèm theo huyết nhiệt gây sốt, mê sảng, phát ban.
Một số món ăn thuốc có dùng vị thạch cao:
Cháo thạch cao trúc diệp: thạch cao 45g, trúc diệp tươi 12g, gạo tẻ 100g. Thạch cao, trúc diệp nấu lấy nước bỏ bã; dùng nước này để nấu với gạo thành cháo. Khi cháo được cho thêm đường phèn hoặc đường trắng vừa ăn. Dùng cho trường hợp sốt cao, họng khô, khát nước.
Chè thạch cao thông bạch: dùng thạch cao, hành sống và chè tươi hoặc chè gói liều lượng tùy ý, nấu hãm lấy nước cho uống. Dùng cho trường hợp đau đầu trong các bệnh đau nửa đầu, đau đầu do sốt siêu vi trùng, bệnh tăng huyết áp...
Cháo thạch cao: thạch cao 250g, gạo tẻ 100g, hành sống 2 củ, sữa đậu nành 20 - 40ml. Thạch cao nấu lấy nước bỏ bã, lấy nước nấu với gạo thành cháo. Khi cháo được cho hành đã giã nát và sữa đậu nành vào, khuấy đều cho ăn khi đói. Dùng cho các trường hợp sốt nóng, đau đầu, kinh giật vật vã, kích động.
Canh thạch cao củ năn: củ năn tươi 250g, thạch cao 30g. Củ năn bóc vỏ rửa sạch, thạch cao đập vụn; nấu trong khoảng 30 phút, cho thêm đường phèn khuấy đều, để nguội cho ăn. Dùng cho trường hợp đau đầu, đau mắt do tăng huyết áp, tăng nhãn áp, sốt cao đau đầu trong các bệnh siêu vi trùng như sốt xuất huyết...
Kiêng kỵ: Vị thuốc này trị các chứng thực, dương nhiệt có dư; người dương hư kiêng dùng. Không dùng bột thạch cao nung để uống, nếu uống sẽ hút nước trương nở làm tắc ruột.

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2016

Thạch cao trong sản xuất xi măng đặc biệt

Hiện nay ngành Xây dựng nước Nga đang sử dụng một số lượng rất lớn các loại xi măng đặc biệt như: Xi măng đông cứng siêu nhanh, xi măng chịu nhiệt, xi măng chịu ăn mòn, xi măng giãn nở và xi măng aluminat để xây dựng nhà và công trình chịu tác động ăn mòn của môi trường hoặc trong khoan giếng khai thác dầu mỏ, khí đốt kể cả trong xây dựng các công trình tổ hợp sản xuất nhiệt cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Xi măng đặc biệt còn được sử dụng để thi công mái nhà không thấm nước hoặc lớp phủ chống các loại bức xạ hoặc để xây dựng những công trình tại các vùng sâu vùng xa với các điều kiện khí hậu khác nhau.
Xi măng giãn nở được sản xuất trên cơ sở nghiền xi măng pooclăng với phụ gia và thạch cao. Các sản phẩm công nghiệp chứa aluminat canxi, clinke sunphát hoá được sử dụng làm phụ gia giãn nở.
Việc sử dụng các loại clinke nêu trên cho phép nhận được xi măng có chất lượng đồng nhất hơn với các tính chất ổn định bởi vì công nghệ sản xuất chúng cho phép điều chỉnh ở mức độ cao nhất đối với thành phần pha và cấu trúc vi mô của clinke đặc biệt, độ phân tán của xi măng giãn nở.
Clinke giãn nở được chia ra 3 loại: Sunphopherit, sunphoalumopherit và sunphoaluminat. Với cả 3 loại clinke nêu trên thì pha C2S có ý nghĩa đứng hàng thứ hai. Tương quan tỷ lệ giữa các pha này có vai trò rất quyết định đối với tính chất của xi măng nhận được. Các tạp chất khác chứa trong nguyên liệu cũng ảnh hưởng đến thành phần pha và các tính chất của clinke.
Trên tất cả các giai đoạn đóng rắn của xi măng, sự giãn nở của xi măng được sản xuất trên cơ sở các clinke nêu trên không chỉ được tạo nên bởi số lượng ettringite hình thành mà còn phụ thuộc vào độ bền vững của các cấu trúc được hình thành. Đá xi măng có cấu trúc đặc khít và các không gian rỗng đã được lấp đầy bằng ettringite, hiđroxit sắt, hiđroxit nhôm, pha tạo gen của silicat canxi ngậm nước. Mức thuỷ hoá cao và độ đặc chắc cao của đá xi măng làm tăng cường độ của xi măng.
Để xi măng đạt cường độ cao và tự tạo ra ứng suất cần sự hình thành của cấu trúc bền vững trong suốt thời gian đóng rắn, do đó cần sử dụng loại xi măng cường độ cao đóng rắn nhanh. Một khi sự cân bằng lực tạo ra sự giãn nở và sự bền vững của cấu trúc trong xi măng đang đóng rắn, bị phá vỡ, xi măng hoặc sẽ đạt được cường độ cao mà không giãn nở rõ ràng hoặc bị phá huỷ dưới tác dụng của các ứng suất lớn nảy sinh từ sự hình thành của các ettringite. Trong trường hợp này việc hạn chế sự giãn nở tự do của mẫu thử bằng cốt thép một chiều hoặc hai chiều sẽ ngăn ngừa được các quá trình phá huỷ.
Có thể duy trì được những điều kiện nêu trên bằng độ phân tán hợp lý của xi măng pooclăng cũng như của thành phần sunphát hoá trong xi măng compozit. Thành phần sunphát hoá cũng ảnh hưởng mạnh lên các tính chất của xi măng giãn nở. Việc sử dụng clinke sunphoaluminat cho phép nhận được xi măng giãn nở đông cứng nhanh và đóng rắn nhanh. Loại xi măng này không thể thiếu trong thi công đường quốc lộ và đường hầm nơi rất cần ngăn ngừa sự thấm lọc của chất lỏng dưới áp lực. Việc tạo ra loại bê tông không thấm nước trong những điều kiện nêu trên cần sử dụng loại xi măng có thời gian đông cứng ngắn như thời điểm bắt đầu đông cứng không chậm hơn 5 - 6 phút và thời điểm kết thúc đông cứng không chậm hơn 15 - 20 phút.
Xi măng giãn nở chứa sunpho sắt có thời gian đông cứng tương tự như xi măng pooclăng (bắt đầu đông cứng sau 2 - 3 giờ, kết thúc đông cứng - 4 - 5 giờ). Động học của sự hình thành ettringite chứa sắt trong thuỷ hoá clinke sunphopherit và clinke sunphoalumopherit bảo đảm sự lèn chặt đáng kể của hệ thống đang đóng rắn qua đó giúp bê tông đạt được cường độ cao nhất.
Xi măng chống ăn mòn có vai trò quan trọng bởi việc bảo vệ kết cấu chống lại sự ăn mòn là một vấn đề rất quan trọng. Hiện nay đã xác định được thành phần và đề xuất công nghệ sản xuất xi măng bền sunphát và xi măng siêu bền sunphát. Việc nghiên cứu nhằm nâng cao độ bền vững của kết cấu bê tông cốt thép chịu tác dụng của môi trường ăn mòn đang được tiếp tục thành công.
Về phương diện đó xi măng chứa sunpho sắt đang có nhiều triển vọng. Loại xi măng này có thời gian đông cứng phù hợp, bảo đảm để vữa xi măng và bê tông đạt được các tính chất lưu biến tốt, sức chịu ăn mòn cao. Do vậy các loại xi măng này được sử dụng trong xây dựng các công trình có thời gian bền vững lâu dài như đê, đập, kênh dẫn, giếng khoan khí đốt và dầu mỏ.
Đặc biệt phải kể đến xi măng aluminat. Ở Nga loại xi măng này được sản xuất dưới dạng xi măng nhôm ôxit. Công nghệ sản xuất chất kết dính đặc biệt tinh khiết có hàm lượng nhôm ôxit cao cũng đã được nghiên cứu kể cả việc sản xuất xi măng alumo chịu nhiệt. Khi hàm lượng Al2O3 đạt đến 50% - xi măng được gọi là xi măng nhôm ôxit, còn khi hàm lượng Al2O3 cao hơn 50% - được gọi là xi măng có hàm lượng nhôm ôxit cao (lưu ý giới hạn này chỉ có tính tương đối).
Trên cơ sở xi măng nhôm ôxit và với cốt liệu chịu lửa tương thích (cốt liệu sa mốt) có thể sản xuất được bê tông bền nhiệt chịu được nhiệt độ lên đến 1.300 - 1.400oC mà không phải cho thêm phụ gia nghiền mịn. Trong khi đó không nên sử dụng loại bê tông này trên nhiệt độ chỉ đạt 600oC - 700oC bởi trên nhiệt độ này cường độ của bê tông thấp. Ngoài ra nên lưu ý khi sản xuất cấu kiện bằng loại chất kết dính này cần phải kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ của vữa bê tông trong quá trình đóng rắn. Nếu nhiệt độ cao hơn 40oC bê tông sẽ bị mất cường độ do xảy ra quá trình kết tinh lại của hiđroaluminat can xi.
Để nâng cao khả năng chịu lửa của chất kết dính nhôm ôxit có thể cho thêm vào thành phần của nó vật liệu phân tán nghiền mịn (độ nghiền mịn không thấp hơn xi măng) có khả năng chịu lửa không thấp hơn nhiệt độ cao nhất sử dụng bê tông hoặc cho thêm vật liệu mà khi được nung nóng do xảy ra phản ứng trong pha rắn với chất kết dính sẽ tạo ra các hợp chất có khả năng chịu lửa cao mà không cần cho thêm cùng tinh dễ nóng chảy. Ví dụ, ôxit magiê liên kết xi măng bằng ôxit silic thành fosterit (Mg2SiO4) và spinen, đất sét chịu lửa. Chất kết dính này có thể được làm xốp bằng cách cho thêm loại vật liệu bị cháy hoàn toàn trên nhiệt độ cao.
Chất kết dính trên cơ sở thuỷ tinh lỏng có khả năng dính bám tốt, tuy nhiên để đóng rắn, giảm độ sụt trong điều kiện nung nóng, nâng cao tính chịu lửa và khối lượng riêng cần cho thêm các phụ gia đặc biệt. Đối với sự đóng rắn của thuỷ tinh lỏng đã được cho thêm phụ gia đóng rắn, trong chất kết dính cần phải xảy ra các quá trình tương tác hoá học với việc sinh ra Si(OH)4 và tạo keo với việc hình thành các hợp chất silicat kiềm môđun lớn. Trong 3 ngày đêm bảo dưỡng khô ngoài không khí loại chất kết dính này đạt được gần như 100% cường độ.
Những loại phụ gia đóng rắn sau đây thoả mãn được những yêu cầu nêu trên: Silic florua natri, các dạng bê ta và gam ma của monosilicat và đisilicat can xi, silicat magiê. Các hợp chất hoá học này có chứa trong các loại vật liệu như bùn xỉ trắng, xỉ luyện kim tự tơi. Tuỳ theo loại phụ gia nghiền mịn độ chịu lửa của chất kết dính dao động trong khoảng từ 1300oC đến 1700oC.
Để nâng cao khả năng chịu nhiệt của bê tông chịu nhiệt sản xuất trên cơ sở thuỷ tinh lỏng cần sử dụng tương ứng loại cốt liệu chịu nóng như cođierit và cacborunđum.
Chất kết dính tổng hợp chịu nóng (silicat kiềm) được sản xuất bằng cách nghiền vật liệu chịu lửa (như samôt) với silicat dạng đá khối. Trong quá trình xử lý nhiệt đối với cấu kiện sản xuất từ bê tông được sản xuất trên cơ sở loại chất kết dính này, đá khối silicat bị hoà tan và chất kết dính thuỷ tinh lỏng sẽ khô đi làm kết dính cốt liệu chịu lửa. Cấu trúc bê tông được hình thành có đặc trưng là tính chịu nhiệt cao trong khi đó chỉ cần sử dụng một lượng ít nhất chất kết dính.
Hiện nay, hướng chủ yếu hoàn thiện các tính chất của xi măng aluminat là hợp lý hoá các chỉ tiêu công nghệ như: Thành phần pha của clinke, nhiệt độ và thời gian nung, cấp độ nghiền và tính đồng nhất của hỗn hợp nguyên liệu, nghiền mịn xi măng để tạo ra kích thước hạt hợp lý.
Việc tạo ra thành phần tổng hợp là một hướng phát triển mới của xi măng nhôm ôxit. Trước đây người ta cho rằng không được cho thêm các loại vật liệu khác vào xi măng nhôm ôxit. Hiện nay, đang nghiên cứu khả năng cho thêm các chất như cacbonat can xi, vi lượng silic ôxit và nhiều chất khác có khả năng làm giảm hiệu ứng chuyển hoá của các hợp chất thuỷ hoá trong quá trình đóng rắn lâu dài của đá xi măng, kéo dài thời gian bền vững của đá xi măng. Xi măng nhôm ôxit có thể được sử dụng để thi công các kết cấu làm việc trong môi trường axit (PH trong khoảng 3 - 4). Khả năng chịu ăn mòn cao, tính bền nhiệt của loại xi măng này khiến nó được sử dụng trong xây dựng công trình nằm trong nước biển, bọc ống dẫn nước thải, chôn lấp chất thải phóng xạ hoặc xây dựng tổ máy sản xuất nhiệt.
Việc sử dụng xi măng đông cứng siêu nhanh cho phép tháo dỡ ván khuôn cho cấu kiện và kết cấu chỉ sau 2 - 3giờ đông cứng hoặc cường độ bê tông đạt đến 60% - 70% chỉ sau một ngày đêm. Tuy nhiên, do thiếu nguyên liệu chứa nhôm ôxit chất lượng cao và một số khó khăn về công nghệ ở Nga loại xi măng này mới chỉ được sản xuất thử trên quy mô công nghiệp. Do nhu cầu về xi măng đông cứng siêu nhanh rất lớn nên đã đề xuất hướng nghiên cứu sản xuất loại xi măng này trên cơ sở sản xuất chất kết tinh “krent” và clinke sunphoaluminat từ chất thải của các ngành công nghiệp để làm phụ gia cho vào xi măng pooclăng giúp cho nó có được những tính chất mong muốn.
Hiện nay đã xuất hiện một lĩnh vực tiêu thụ xi măng đông cứng nhanh và xi măng giãn nở trên quy mô lớn, đó là lĩnh vực sản xuất vữa khô xây dựng. Các loại phụ gia bảo đảm sự không co ngót của vữa hoặc bảo đảm sự giãn nở của hệ thống đang đông cứng là những yếu tố vừa có tính hiện đại vừa có tính công nghệ cao trong thành phần của hỗn hợp. Loại phụ gia nêu trên là clinke nghiền mịn được sunphát hoá kết hợp với thạch cao.
Như vậy, những chất lượng kỹ thuật cao của xi măng được sản xuất trên cơ sở clinke sunphát hoá cho phép giải quyết được những vấn đề kỹ thuật quan trọng nảy sinh trong xây dựng các loại công trình khác nhau. Các loại xi măng đó nhanh đạt cường độ cần thiết, độ lèn chặt của vữa và bê tông đều cao, có khả năng bảo vệ chống ăn mòn trong môi trường ăn mòn.

Nguồn: Đại học xây dựng




Nếu quý khách có nhu cầu hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và nhận bảng báo giá mới nhất
CTY TNHH TM DV HÓA CHẤT VT
17B, Đường 9. KP3, Linh Trung, Thủ Đức, TP HCM
DĐ: 0917.879.479 ( Mr Vinh )
ĐT:  08 62839338
Fax: 08 37228840
YM: phamquangvinh95
Skype: phamquangvinh95
Chân thành cảm ơn quý khách đã tin dùng các sản phẩm do Hóa chất VT cung cấp
Trân trọng kính chào!




Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

Lịch sử của thạch cao

Ngày nay thạch cao là nguyên liệu tự nhiên phổ biến trong các kiến trúc hiện đại khắp nơi trên thế giới. Nhưng lịch sử sử dụng thạch cao được bắt đầu cách đây 5000 năm, từ thời Ai Cập cổ đại, nơi mà các đặc tính của thạch cao được khám phá. Chúng ta cũng biết rằng cách đây 5000 năm, người Ai Cập đã biết đốt hở thạch cao trên lửa, sau đó nghiền thành bột, và cuối cùng trộn loại bột này với nước để làm vật liệu trám giữa các khối trong các lăng mộ, ,mà Kim tự tháp Cheops vĩ đại là 1 ví dụ. Người Hy Lạp cũng sử dụng thạch cao trong các trường hợp đặc biệt như cửa sổ trong các đền đài của họ. 
Tác giả Theophraster(372-287 trước CN) đã mô tả khá đầy đủ cách sản xuất bột thạch cao thời điểm đó tại Syria và Phoenicia.
Người La Mã đã đúc bằng thạch cao hàng ngàn bản sao các bức tượng Hy Lạp. Năm 1775 một người Pháp tên Lavoisier đã tìm ra công thức hóa học của thạch cao là CaSO4.2H2O. Việc phát hiện thành phần thạch cao gồm canxisunphat và nước kết tinh đã mở đường cho sự phát triển công nghiệp thạch cao. Vào năm 1888 hãng Sackett Hoa Kì phát minh ra máy sản xuất tấm thạch cao, năm 1901 nhà máy sản xuất tấm thạch cao đầu tiên trên thế giới được xây dựng tại Hoa Kì. Ngày nay, bột thạch cao được ứng dụng rộng rãi trong các sinh hoạt hàng ngày của chúng ta và các lĩnh vực khác, như : công nghiệp xây dựng, sức khỏe, nông nghiệp, trang trí, sơn…



Nếu quý khách có nhu cầu hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và nhận bảng báo giá mới nhất
CTY TNHH TM DV HÓA CHẤT VT
17B, Đường 9. KP3, Linh Trung, Thủ Đức, TP HCM
DĐ: 0917.879.479 ( Mr Vinh )
ĐT:  08 62839338
Fax: 08 37228840
YM: phamquangvinh95
Skype: phamquangvinh95

Thông tin kĩ thuật của thạch cao

Nguồn gốc tên gọi:
 Tên gọi gypsum (thạch cao) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, đó là động từ  μαγειρεύω(tiếng Hy Lạp nghĩa là “đốt” hay “nấu”), vì từ thời cổ đại con người đã biết nung loại đá này để làm chất kết dính trong xây dựng (như Kim Tự tháp ở Ai cập.) Tên gọi khác: Alabaster/Plaster of Paris/Satin Spar /Selenite
Tên gọi: THẠCH CAO (tên tiếng Việt)/ GYPSUM (tên tiếng Anh)

Công thức hóa học: CaSO4.2H2O

Thành phần cấu tạo : 
Khối lượng nguyên tử  =   172.17
Calcium     23.28 %  Ca    32.57 % CaO 
Hydrogen     2.34 %  H       20.93 % H2O 
Sulfur          18.62 %  S       46.50 % SO3 
Oxygen       55.76 %  O 
                      ______              ______  
                    100.00 %         100.00 % = TOTAL OXIDE 


Nguồn gốc: Tồn tại trong lớp bùn trầm tích sau khi nước biển bay hơi.

Phân bố: 
Thạch cao có khắp  trên thế giới. Ở Đông Dương, Lào và Việt Nam là nước có trữ lượng lớn nhất

Nguồn gốc tên gọi: Tên gọi gypsum (thạch cao) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, đó là động từ  μαγειρεύω(tiếng Hy Lạp ngh ĩa là “đốt” hay “nấu”), vì từ thời cổ đại con người đã biết nung loại đá này để làm chất kết dính trong xây dựng (như Kim Tự tháp ở Ai cập.) Tên gọi khác: Alabaster/Plaster of Paris/Satin Spar /Selenite 

Một số hình ảnh đá thạch cao:
Thạch cao của vùng New South Wales, Úc.
 Thạch cao thông thường (1-5% tạp chất)


TÍNH CHẤT VẬT LÍ:
Màu sắc: trắng, không màu, vàng-trắng, lục-trắng, đà…,ngoài ra màu thạch cao còn phụ thuộc vào tạp chất.
Hành vi tạo tinh thể: Đồ sộ, phẳng. Tinh thể kéo dài hình lăng trụ.
Cấu trúc tinh thể: Đơn nghiêng
Độ bóc tách: 2 (66° và 114°)
Độ cứng Mohs: 1,5-2
Chiết suất: 1,522
Phân cực ánh sáng: không
Màu bột khi cọ xát: trắng
Tỷ trọng riêng: 2,31 - 2,33
Các dạng khoáng vật chính: Satin Spar (khối có sợi như ngọc trai), Selenit (tinh thể trong suốt và có phiến), Alabaster (hơi có màu, hạt mịn)


Nếu quý khách có nhu cầu hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và nhận bảng báo giá mới nhất
CTY TNHH TM DV HÓA CHẤT VT
17B, Đường 9. KP3, Linh Trung, Thủ Đức, TP HCM
DĐ: 0917.879.479 ( Mr Vinh )
ĐT:  08 62839338
Fax: 08 37228840
YM: phamquangvinh95
Skype: phamquangvinh95

Thạch cao và ứng dụng

           Thạch cao có rất nhiều ứng dụng trong đời sống, từ y tế, công nhiệp , thực phẩm thậm trí làm đẹp, là khoáng vật trầm tích hay phong hóa rất mềm, với thành phần là muối canxi sulfat ngậm 2 phân tử nước (CaSO4.2H2O). Tinh thể hạt, bột... khối lượng riêng 2,31-2,33 g/cm³.
             Từ xa xưa người ta biết đến thạch cao thông qua việc lấy khoáng thạch cao từ các mỏ sau đó đem về rang trên chảo lớn với nhiệt độ khoảng 200 độ C rồi nghiền mịn bằng các công cụ thô sơ để sử dụng. Về sau việc chế tạo thạch cao đã được hiện đại hóa và được thực hiện trong các lò nung như lò đứng hoặc lò quay. Hiện nay thạch cao sử dụng trong công nghiệp xây dựng vẫn được chế tạo chính theo phương pháp này. Tuy nhiên sản phẩm thu được thường là hemihyđrat dạng β có cường độ chịu lực không cao, thời gian đóng rắn nhanh và khi sử dụng cần một lượng nước khá lớn để có vữa thạch cao. Tuy nhiên nó vẫn đáp ứng được yêu cầu trong kỹ thuật nặn tượng hoặc làm vữa trát tường.
Khoáng thạch cao (gypsum, CaSO4.2H2O) nung ở ~150 °C nhận được thạch cao khan
CaSO4·2H2O → CaSO4·0,5H2O (thạch cao khan) + 1,5H2O (dưới dạng hơi).
Thạch cao khan đem nghiền thành bột, nếu trộn bột này với nước thì thành vữa thạch cao. Đem vữa thạch cao ở trạng thái tươi đi đổ khuôn sau đó đợi ninh kết (sản phẩm thủy hóa lại là CaSO4.2H2O và một phần chưa thủy hóa vẫn là CaSO4.0,5H2O) thì nhận được vật liệu màu trắng có cường độ và độ ổn định nhất định (tên của dạng vật liệu cuối cùng nhận được này thường được gọi một cách đơn giản là "thạch cao" hay khuôn thạch cao).

             Bột thạch cao khan được dùng trong công nghiệp xi măng, gạch men, giấy, kỹ thuật đúc tượng, bó bột.

Dùng bột thạch cao trộn với nước theo tỷ lệ khoảng 50/50 ta có vữa thạch cao. Vữa thạch cao đông rắn trong khoảng từ 3 đến 5 phút.Thời gian đông kết cũng như độ cứng của vữa phụ thuộc vào tỷ lệ nước còn lại trong bột thạch cao sau quá trình nung khoáng thạch cao (tỷ lệ nước tỷ lệ nghịch thời gian đông rắn và độ cứng của vữa). Người ta dùng vữa thạch cao trong y tế (bó bột, khâu chế tạo chân tay giả, nha khoa), làm phấn viết, phấn trang điểm, trong mỹ nghệ kim hoàn (khuôn đúc, phôi xi mạ, độn ruột...), trong việc tạo hình, đổ khuôn, đúc tượng của ngành điêu khắc và các ngành ứng dụng khuôn mẫu (đúc nhựa, đúc đồng, làm gạch, men sứ, gốm...), ứng dụng trong xây dựng như vách ngăn, trần, phun tạo bề mặt tường, chi tiết trang trí công trình kiến trúc (Trần, phào, chỉ, hoa văn...). Điều chế thiết bị lọc nước, chất lỏng trong gia dụng, công nghiệp.
 

    Nếu quý khách có nhu cầu hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và nhận bảng báo giá mới nhất

CTY TNHH TM DV HÓA CHẤT VT17B, Đường 9. KP3, Linh Trung, Thủ Đức, TP HCM
DĐ: 0917.879.479 ( Mr Vinh )ĐT:  08 62839338
Fax: 08 37228840YM: phamquangvinh95
Skype: phamquangvinh95
Email:vinhvinh95@gmail.com

Theo: Wikipedia.org